Đảm bảo an ninh nguồn nước: Thay đổi bằng những lựa chọn thông minh
Chủ nhật, 22 Tháng 9 2013 12:08    In Email
Mặc dù là một quốc gia dồi dào tài nguyên nước với nguồn nước chảy qua lãnh thổ là 853 tỷ m3 (xếp thứ 8 thế giới), nguồn nước trong nước là 323 tỷ m3 và bình quân đầu người là 10.537 m3 nước… tuy nhiên, nếu không có các phương pháp tiếp cận mới, Việt Nam sẽ đứng trước viễn cảnh khủng hoảng về nước.

Nhận định trên được đưa ra tại Hội nghị quốc tế “Ứng dụng các giải pháp ngành nước tại Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Đại sứ quán Isarel tại Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp tổ chức mới đây tại Hà Nội.  
Thống kê của Hội Thủy lợi Việt Nam (Viwarda) cho thấy: Hiện Việt Nam có hệ thống 75 công trình thủy lợi lớn nhỏ với các hồ chứa thủy điện và thủy lợi chứa 22 tỷ m3 nước. Tuy nhiên, nhu cầu nước cho các ngành lớn hơn rất nhiều lần dung tích chứa nói trên. Cụ thể trong năm 2010, nếu như nước cho cây trồng là 71,9 tỷ m3, cho nuôi trồng – chế biến thủy sản là 12,25 tỷ m3 và cho sản xuất công nghiệp là 4,8 tỷ m3 thì dự báo trong năm 2020, nguồn nước cho các ngành này sẽ lần lượt là 80,1 tỷ m3, 18,9m3 và 6,2 tỷ m3…
Theo GS.TS Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Viwarda, do địa hình đồi núi phức tạp nên chúng ta không thể xây được những hồ chứa nước có dung tích lớn, trong khi đó thách thức đối với nguồn nước lại đến từ nhiều phía như do mặt hồ, ao, đầm lầy bị lấp; độ che phủ rừng giảm; khoảng 1 tỷ m3 nước thải hóa chất công nghiệp chưa được xử lý…. Đó là chưa kể suy giảm nguồn nước do biến đổi khí hậu gây ra khi hiện nay sông Hồng mùa cạn giảm 10 – 15% lượng nước, sông Cửu Long mùa cạn giảm 16 – 24% lượng nước…
Trong khi đó vai trò quản lý nhà nước về tài nguyên nước hiện nay chưa rõ ràng. “Mặc dù Luật Tài nguyên nước đã được ban hành, Bộ Tài nguyên Môi trường đang được giao quản lý chất lượng nguồn nước, còn các Bộ khác cũng quản lý việc sử dụng nước của các ngành theo thể chế riêng…. Tuy nhiên, do chức năng chưa rõ ràng dẫn đến thiếu sự phối hợp của các cơ quan nghiệp vụ, lấn sân nhau và tạo kẽ hở cho những hoạt động gây tổn thương tài nguyên nước”, GS.TS Vũ Trọng Hồng cho hay.
Theo ông Hồng, cần phải nhanh chóng xây dựng những công cụ quản lý, đảm bảo rằng nước là hàng hóa kinh tế, người sử dụng và người gây ô nhiễm sẽ phải trả tiền, đồng thời phải ứng dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại cũng như nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước về nguồn tài nguyên nước.
Đề cập đến các phương pháp tiếp cận quản lý nước, bà Jennifer Sara – Giám đốc Bộ phận Phát triển bền vững của WB Việt Nam nhấn mạnh: Việt Nam cần phải ưu tiên tập trung vào thay đổi cơ sở hạ tầng cũng như chính sách và thể chế đối với tài nguyên nước.
Theo WB, tiêu dùng năng lượng toàn cầu dự đoán sẽ tăng hơn 50% trong giai đoạn 2007 – 2035, đặc biệt là khi thủy điện và nhiệt điện phát triển (sản xuất đến 90% lượng điện tiêu dùng hiện nay) thì nhu cầu sử dụng nước làm mát hệ thống càng nhiều và nguy cơ mất điện do thiếu nước làm mát đã xảy ra ở nhiều quốc gia. Từ thực tế này, bà Jennifer gợi mở: “Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, lĩnh vực năng lượng và công nghiệp cần phải có lựa chọn thông minh các công nghệ làm mát nhà máy thủy điện và nhiệt điện nhằm giảm tiêu thụ nước và rút nước từ hồ chứa. Đồng thời cũng phải lưu ý việc phân chia nguồn nước dựa trên các nhu cầu nước chất lượng như tái sử dụng nước thải qua xử lý để giảm áp lực về nhu cầu trong nước”.
Theo đó, tầm nhìn này đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi phương án tiếp cận nước. “Trước đây nước là một ngành, là vấn đề của quốc gia và là thách thức về kỹ thuật thì nay đã là vấn đề của toàn cầu, là thách thức của nhiều ngành và liên quan đến nhiều chức năng vì vậy đòi hỏi Việt Nam phải có những quyết sách thông minh đối với nguồn tài nguyên nước thông qua các quy trình vững chắc để các quyết sách có giá trị sử dụng và tác động lâu dài”, bà Jennifer Sara cho hay.
Trong khi đó bài học kinh nghiệm từ Israel, quốc gia hàng đầu về ứng dụng các giải pháp ngành nước cho thấy, chỉ có thể giải quyết vấn đề về nước thông qua các phương án tiếp cận quản lý, các giải pháp công nghệ và sử dụng cơ chế tài chính sáng tạo như BOT, BOO, PPP…nhằm giảm rủi ro và chi phí cho nhà nước.  
TS.Sinaia Netanyahu – Trưởng nhóm các nhà khoa học Bộ Bảo vệ Môi trường Israel gợi mở: Thời gian tới, Việt Nam cần tăng cường quản lý nước thông qua hỗ trợ của Israel, trong đó các hướng tập trung chủ yếu sẽ là dựa vào kỹ thuật như tăng công suất của các hồ chứa nước, kết nối các khu vực hẻo lánh, vùng sâu, vùng xa; xử lý nước lợ, nước thải để làm nước tưới cũng như khôi phục các tầng nước ngầm bị ô nhiễm.
“Với các công nghệ chính như xử lí nước, khử mặn, xử lí nước thải, chống rò rỉ và thất thoát nước, Israel có thể đưa ra nhiều cơ hội tiếp cận công nghệ cũng như kinh nghiệm giúp Việt Nam có nhiều lựa chọn về giải pháp cho ngành nước của các bạn”, ông Netanyahu cho hay./.  

Bài liên quan